Thánh Bênađô, viện phụ – 20.08

937
0

Thánh Bênađô, viện phụ

(Ngày kính: 20/08)

 

Đây là vị viện phụ Xitô nổi tiếng nhất trong lịch sử, được mệnh danh là “Tiến sĩ Mật Ngọt”, vì những tâm tình trìu mến và ngôn từ ngọt ngào diễn tả tư tưởng thần học sâu sắc về Chúa Giêsu Kitô và Mẹ Maria. Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 21 tháng 10 năm 2009 đế chia sẻ về thánh nhân.

Anh chị em thân mến!

Hôm nay tôi muốn nói về thánh Bênađô, viện phụ, được xem là vị “Giáo phụ cuối cùng” của Giáo hội, vì một lần nữa, vào thế kỷ XII, thánh nhân đã canh tân và mang lại cho nền thần học quan trọng thời các Giáo phụ một vị trí nổi bật. Tuy không có nhiều thông tin về cuộc đời thơ ấu của thánh nhân, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng ngài được sinh ra ở Fontaines (nước Pháp) vào năm 1090, trong một gia đình khá giả, quyền quý. Từ khi còn rất trẻ, thánh Bênađô đã dành hết tâm lực nghiên cứu các ngành nghệ thuật tự do, đặc biệt bộ môn Văn phạm, Hùng biện và Phép biện chứng, tại trường các kinh sĩ của Nhà thờ thánh Vorles ở Châtillon-sur-Seine. Quyết định sống ơn gọi tu trì cứ dần lớn lên trong tâm hồn Bênađô. Ở tuổi hai mươi, ngài gia nhập đan viện Cĩteaux (Xitô), một hình thức đan tu mới, khá uyển chuyển so với những đan viện đáng kính cổ xưa trong giai đoạn ấy, nhưng lại nghiêm khắc tuân giữ các lời khuyên Tin Mừng. ít lâu sau, khoảng năm 1115, Bênađô được viện phụ Stephen Harding (vị viện phụ thứ ba của dòng Xitô) sai đi thành lập một đan viện mới ở Clairvaux. Chính tại đây, vị viện phụ trẻ mới chỉ hai mươi lăm tuổi, có thể xác định rõ quan điểm về nếp sống đan tu của mình và áp dụng vào thực tiễn. Từ kỷ luật của những đan viện khác, thánh Bênađô nhận thấy cộng đoàn của mình cần phải giữ cung cách trang nghiêm, chừng mực, trong ăn uống cũng như may mặc, và kể cả cơ sở vật chất của đan viện nữa. Thánh nhân cũng muốn cộng đoàn đan viện của mình biết quan tâm và giúp đỡ những người nghèo khổ. Trong bối cảnh bấy giờ, số các tín hữu ở Clairvaux ngày đông đảo hơn và cơ sở vật chất cũng gia tăng rất nhiều.

Khoảng trước năm 1130, thánh Bênađô bắt đầu hồi đáp thư từ do những nhân vật quan trọng, cũng như những kẻ thấp kém nhất trong xã hội gửi đến. Ngoài các lá thư viết trong giai đoạn này, chúng ta cũng phải nhắc đến khá nhiều “Bài giảng”, “Ý kiến” (Sententiae) và “Tham luận” (Tractatus) của thánh nhân. Tình bằng hữu thân thiết giữa thánh Bênađô với William (viện phụ đan viện Thierry) và với William Champeaux (một trong những nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ XII) cũng nảy sinh trong giai đoạn này. Từ năm 1130 trở đi, viện phụ Bênađô bắt quan tâm đến nhiều vấn đề nghiêm trọng của Tòa thánh và Giáo hội. Vì thế, ngài buộc phải thường xuyên rời khỏi đan viện của mình, và đôi lần, phải đi ra ngoài biên giới nước Pháp. Thánh nhân cũng thiết lập một vài nữ đan viện và là nhân vật chính trong một cuộc trao đổi thư từ sống động với Phêrô Khả Kính, viện phụ Cluny.

Trong những tác phẩm luận chiến của mình, thánh Bênađô nhắm tới cụ thể là học giả Abelard, một nhà tư tưởng lớn đã mở ra một lối tiếp cận thần học mới, trên hết, dẫn tới một phương pháp biện chứng và triết học cấu thành nền tư tưởng thần học. Mặt khác, thánh Bênađô cũng tranh luận với lạc giáo Cathar, những kẻ coi khinh vật chất và thân xác con người, và hệ quả, cũng coi khinh cả Đấng Sáng Tạo. Thêm nữa, thánh nhân còn nhận thấy mình có trách nhiệm phải bảo vệ những người Do Thái, và kết án những phong trào đang bùng nổ chống người Sêmit. Vì thánh Bênađô có những hoạt động tông đồ đặc biệt như thế, nên vài thập niên sau, một thầy Rabbi Do Thái tên là Ephraim Bonn, tỏ lòng kính trọng thánh nhân cách đặc biệt.

Cũng trong thời kỳ ấy, thánh Bênađô đã viết những tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, chẳng hạn, tác phẩm đầy ấn tượng “Những Bài Giảng về Sách Diễm ca” (In Canticum Sermones). Trong những năm cuối đời (thánh nhân mất năm 1153), thánh Bênađô buộc phải giảm bớt các hành trình của mình, nhưng không hoàn toàn dừng các chuyến đi. Thánh nhân có thời gian để xem xét lại toàn bộ các tác phẩm của mình (các lá thư, các bài giảng, và nhiều khảo luận). Đáng đề cập là một tập sách khác thường được thánh nhân hoàn thành vào thời gian này, khoảng năm 1145, khi Bênađô Pignatelli, một học trò của ngài, được bầu chọn làm Giáo Hoàng với tước hiệu Eugeniô III.

Nhân sự kiện ấy, thánh Bênađô, người cha tinh thần, gởi tặng đứa con thiêng liêng của mình một bộ năm quyển “De Consideratione”, chứa đựng những lời khuyên bảo, hướng dẫn làm sao để trở thành một vị giáo hoàng thánh thiện, tốt lành. Trong bộ sách này (thích hợp cho các vị giáo hoàng trong mọi thời đại), thánh Bênađô diễn tả một nhãn quan sâu sắc về mầu nhiệm Giáo hội và mầu nhiệm Đức Kitô, được giải quyết đến tận cùng khi chiêm niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thánh nhân viết như sau: “Chúng ta phải tiếp tục tìm hiểu Thiên Chúa, Đấng vẫn chưa được tìm kiểm cho đủ. Nhưng, hãy nhớ rằng việc tìm kiếm và nhận biết Thiên Chúa sẽ trở nên dễ dàng hơn, nếu chúng ta tha thiết cầu nguyện, thay vì chỉ dựa vào những cuộc thảo luận mà thôi. Vì thế, chúng ta hãy khép lại tập sách này ở đây, nhưng không kết thúc cuộc tìm kiếm”[1] mà vẫn tiếp tục hành trình đến với Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến! Ở đây tôi chỉ muốn suy ngẫm về hai khía cạnh đạo lý chính yếu trong số rất nhiều giáo huấn quan trọng của thánh Bênađô:

  • đạo lý liên quan đến Đức Giêsu Kitô, và
  • đạo lý về Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh, Mẹ của Người.

Thánh Bênađô suy ngẫm rất nhiều về việc người Kitô hữu tham dự mật thiết và tích cực vào mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Mối lưu tâm của ngài không mang lại một nguyên tắc nào mới xét trong khoa thần học. Nhưng, bằng một cách thức quyết liệt hơn, thánh Bênađô kết hợp cả ba cương vị với nhau: nhà thần học, nhà chiêm niệm và nhà thần bí. Thánh Bênađô khẳng định (xét trên phương diện lý trí biện chứng phức tạp trong thời đại ấy) chỉ mình Đức Giêsu là “mật ngọt trong miệng, là điệu hát trong tai, là niềm hoan lạc trong tâm hồn (mel in ore, in aure melos, in corde iubilum)”. Danh hiệu “Tiến sĩ Mật Ngọt” (Doctor Mellifluus) mà truyền thống vẫn gán cho thánh nhân, đích thực bén rễ từ những tư tưởng rất đẹp như thế. Thực vậy, những lời thánh Bênađô ca ngợi Đức Giêsu Kitô “tuôn trào như mật ngọt”.

Trong những cuộc tranh luận giữa trường phái Duy Danh và trường phái Duy Thực, là hai trào lưu triết học trong thời bấy giờ, thánh Bênađô không ngừng lặp lại rằng: chỉ có một danh tính duy nhất đáng quan tâm, đó là Giêsu Nazareth. Thánh nhân tuyên xưng: “Lạy Chúa, con biết rằng, mọi lương thực của linh hồn đều ra khô cạn, nếu không được thấm đẫm loại dầu này, và sẽ ra như nhạt nhẽo, nếu không được ướp đặm bằng thứ muối này. Mọi điều Ngài viết đều vô vị, nếu con không cao rao Danh Thánh Giêsu”.[2] Thực vậy, đối với thánh Bênađô, hiểu biết Thiên Chúa đích thực luôn bao gồm trong đó một kinh nghiệm cá nhân sâu sắc về Đức Giêsu Kitô và về tình yêu vô biên của Người.

Anh chị em thân mến! Tôi thiết nghĩ điều này cũng rất đúng với mọi Kitô hữu: đức tin là điều trước hết và quan trọng hơn hết, để kiến tạo một cuộc gặp gỡ thân tình cá vị với Đức Giêsu Kitô, dẫn tới kinh nghiệm về sự gần gũi, thân thiết và tình yêu của Người. Chính nhờ thế, chúng ta sẽ hiểu biết Thiên Chúa nhiều hơn, yêu mến Thiên Chúa tha thiết hơn và quyết tâm bước đi theo Người. Mong cho điều này diễn ra nơi cuộc đời mỗi người chúng ta.

Trong một Bài giảng nổi tiếng vào Chúa Nhật Tuần Bát Nhật kính Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, thánh Bênađô đã diễn tả Đức Maria tham dự mật thiết hiến lễ cứu chuộc của Con Mẹ bằng những lời đầy cảm xúc như sau: “Ôi Mẹ diễm phúc, một thanh gươm đã đâm thấu tâm hồn Mẹ … Đau khổ dữ dội ập vào trái tim Mẹ. Bởi thế, nào có gì thích hợp hơn danh xưng Đấng Tử Đạo để chúng con có thể gọi Mẹ, vì Mẹ đã thông dự mật thiết vào cuộc khổ nạn của Con Mẹ, chịu đớn đau khổ sầu hơn muôn vàn nỗi đau thể lý của những bậc anh hùng tử đạo”.[3]

Thánh Bênađô không nghi ngờ gì nữa: qua Mẹ Maria, chúng ta đến với Chúa Giêsu (per Mariam ad Iesum). Thánh nhân đã chứng minh một cách rõ ràng, Đức Maria hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa Giêsu, điều này hoàn toàn phù hợp với nền tảng Thánh Mẫu Học truyền thống. Nhưng những lời trong tập “Bài Giảng” cũng tô đậm vị trí danh giá của Đức Trinh Nữ trong nhiệm cục cứu độ, vì sự thông dự đặc biệt nhất của Mẹ vào hiến lễ của Đức Giêsu Kitô. Không phải ngẫu nhiên mà khoảng hơn một thế kỷ sau khi thánh Bênađô qua đời, thi sĩ Dante Alighieri, trong bài tán tụng cuối cùng của tập “Divine Comedy”, đã đặt trên môi miệng của vị Tiến sĩ Mật Ngọt này những lời cầu nguyện tuyệt đẹp về Đức Maria như sau:

Mẹ Đồng Trinh Rất Thánh,

là nữ tỳ Chúa Con

khiêm hạ vâng lời truyền

Đấng Tối Cao ân thưởng

Vượt trên muôn thụ tạo.

Xin đoái thương nhìn đến

Đoàn con cái nài van

Mà ban lời khuyên bảo

Hầu kiên trì tiến bước

Đường hạnh phúc thiên đàng[4]

Những suy niệm này cho thấy một nét nổi bật nơi thánh Bênađô, viện phụ: ngài rất mực yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Đó cũng là những tư tưởng vô cùng bổ ích cho các nhà thần học và mọi Kitô hữu.

Nhiều người khẳng định: có thể giải quyết các vấn nạn nền tảng về Thiên Chúa, con người và thế giới chỉ bằng năng lực của lý trí mà thôi. Nhưng, phần thánh Bênađô, ngài dựa vào nền tảng Kinh Thánh và tư tưởng của các Giáo phụ một cách chắc chắn, để nhắc nhớ chúng ta rằng: nếu không có một đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa, được nuôi dưỡng nhờ lời cầu nguyện, chiêm niệm và nhờ tương quan mật thiết với Đức Kitô, thì những suy tư, bàn thảo của chúng ta về các mầu nhiệm thánh dễ dàng trở nên những trò vận hành trí tuệ trống rỗng, đánh mất độ khả tín. Thần học đẩy chúng ta quay về với “tri thức của các vị thánh”, học hỏi những gì các ngài đã hiểu biết về các mầu nhiệm của Thiên Chúa hằng sống, và nhớ rằng, sự khôn ngoan của các ngài là ân huệ của Chúa Thánh Thần, đó là điểm quy chiếu cho mọi tư tưởng thần học. Cùng với thánh Bênađô viện phụ, chúng ta phải ý thức rằng con người có thể dễ dàng tìm kiếm và nhận biết Thiên Chúa “trong cầu nguyện hơn là trong các cuộc bàn thảo, suy luận”. Cuối cùng, hình ảnh chân thực nhất của một nhà thần học và nhà rao giảng Tin Mừng vẫn là thánh “Tông đồ Gioan”, người đã kề sát đầu mình vào lồng ngực của Thầy Giêsu.

Tôi xin khép lại bài chia sẻ hôm nay với lời khẩn cầu Đức Maria có trong một bài giảng ấn tượng của thánh nhân: “Giữa những gian nguy và sầu khổ, giữa muôn vàn bấp bênh của đời dương thế, hãy nhớ đến Mẹ, hãy cậy trông nơi Mẹ. Mẹ Maria từ ái không bỏ qua lời con cái cầu xin. Bởi thế, hãy chạy đến bên Mẹ, hãy tha thiết nài xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta, và đừng bao giờ lãng quên gương mẫu sáng ngời trong đời sống của Mẹ. Vững bước theo Mẹ, sẽ không vấp ngã. Khấn xin nơi Mẹ, chẳng phải thất vọng. Hướng nhìn lên Mẹ, đâu sa đàng tội. Có Mẹ trợ lực, nào sợ hãi chi. Nhờ Mẹ dẫn lối, không vương luỵ trần. Được Mẹ hộ phù, đạt đích mong chờ.”[5]

(ĐGH Benedict XVI – trích tập sách 36 Thánh Tiến Sĩ)

Eng: https://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/audiences/2009/documents/hf_ben-xvi_aud_20091021.html

[1]      XIV, 32: PL 182, 808.

[2]      In Canticum Sermones XV, 6: PL 183, 847.

[3]      14: PL 183, 437-438.

[4]      Paradise XXXIII, w. 1 ff

[5]      Hom. II super Missus est, 17: PL 183, 70-71.