Trang chủ Giới thiệu sách 36 Thánh Tiến Sĩ – ĐGH Benedict XVI

36 Thánh Tiến Sĩ – ĐGH Benedict XVI

890
0
Chia sẻ

36 THÁNH TIẾN SĨ

(ĐGH Benedict XVI)

Lời giới thiệu

Đức thánh cha Bênêđictô XVI đã dành một phần lớn các buổi tiếp kiến chung hằng tuần để giới thiệu những chứng nhân của đức tin Kitô giáo trong lãnh vực tư tưởng, kể từ thời hậu các thánh Tông đồ cho đến thời cận đại.

Loạt bài này được mở đầu với các giáo phụ: từ thánh Clêmentê Rôma (07/03/2007) cho đến thánh Isiđôrô (18/06/2008) và thánh Maximô Tuyên giáo (25/06/2008): tất cả là ba mươi sáu vị.

Loạt bài này tạm ngưng để trình bày về cuộc đời và đạo lý của thánh Phaolô nhân dịp năm kính thánh Tông đồ dân ngoại (02/07/2008 – 04/02/2009), rồi được tiếp tục với các nhà thần học thời Trung cổ, bắt đầu với thánh Gioan Climacô (11/02/2009) và kết thúc với chân phước Duns Scotus (07/07/2010): tất cả là ba mươi vị, gồm cả hai thánh lập dòng tuy không phải là những văn sĩ (Phanxicô Assisi và Đa Minh).

Đặc biệt, một loạt bài tiếp theo được dành cho các tác giả nữ giới thuộc thời Trung cổ (01/09/2010 – 26/01/2011): Hildegard Bingen, Matilđê Hackeborn, Gertruđê, Angela Foligno, Elizabeth Hungari, Brigida, Margherita d’Oingt, Giuliana Cornillon, Catarina Siena, Giuliana Norwich, Veronica Giuliani, Catarina Bologna, Catarina Genova, Jeanne d’Arc. Tất cả là mười bốn vị, tuy không phải tất cả đều để lại văn phẩm.

Loạt bài này được kết thúc với tám vị thánh thuộc thời cận đại (02/02 – 06/04/2011): Têrêsa Avila, Phêrô Canisiô, Gioan Thánh Giá, Rôbertô Bêlaminô, Phanxicô Salê, Lôrensô Brindisi, Anphongsô Ligôri, Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Trong số các vị chứng nhân của truyền thống Kitô giáo, tập sách này chỉ chọn lọc các vị thánh Tiến sĩ Hội Thánh (Doctores Ecclesiae, Doctors of the Church).

Thiết tưởng nên nói qua về ý nghĩa của các ngài trong đời sống Giáo hội.

1. Khái niệm

Trong tiếng Việt, nói đến “Tiến sĩ” là nói đến bằng cấp. Nếu tôi không lầm thì bằng này đã có từ xưa lắm rồi, trước khi mở các trường đại học nữa. Ai đọc lịch sử cũng đều nhớ các cuộc thi để lấy bằng tú tài, cử nhân, Tiến sĩ thời xưa. Dĩ nhiên, ai muốn đỗ bằng Tiến sĩ thì phải có văn hay chữ tốt, thông kim bác cổ và sẽ được mời ra làm quan ngay. Khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương, cha ông chúng ta đã dùng từ Tiến sĩ để dịch danh từ docteur, tuy rằng hai từ ngữ không hoàn toàn tương đương với nhau, xét vì một đàng, từ docteur có thể dịch là Tiến sĩ hay Bác sĩ, đàng khác, bằng docteur gắn với khung cảnh đại học. Thành thực mà nói, ngày nay bằng docteur được cấp như văn bằng cao cấp của đại học, nhưng vào thời Trung cổ, tức là lúc các đại học mới ra đời, thì bằng này chỉ được trao cho ai được bổ làm giáo sư.

Trong tiếng La Tinh, từ doctor gắn liền với động từ docere, nghĩa là dạy dỗ. Chính trong khung cảnh này mà chúng ta lồng tước hiệu “Tiến sĩ Hội Thánh”. Khi tôn phong một vị nào làm “Tiến sĩ Hội Thánh”, Giáo hội không có ý tỏ lòng khâm phục tài trí sâu sắc của họ cho bằng nhìn nhận họ đáng làm thầy dạy dỗ Dân Chúa. Dĩ nhiên tất cả các thánh đều đáng làm thầy dạy dỗ chúng ta, xét vì họ nêu gương nhân đức, đáng cho chúng ta bắt chước. Nhưng đối với thánh tiến sĩ, họ còn làm thầy theo nghĩa là họ để lại một học thuyết, một đạo lý qua các tác phẩm của họ. Nói cách khác, họ làm thầy bằng cuộc đời và bằng học thuyết.

2.  Lịch sử

Từ thế kỷ V, Giáo hội đã nhìn nhận một vài giám mục hay linh mục làm “thầy” của mình, tuy rằng dưới một danh xưng khác, tức là “Cha của Giáo hội” (quen dịch là “Giáo phụ”: Patres Ecclesiae). Theo Vincent de Lérins (+k.450), họ là “những người đã luôn luôn dạy dỗ đức tin và trung thành với đức tin; họ đã chết trong sự trung thành với Đức Kitô, thậm chí có người đã được phúc chết vì Chúa” (Commonitorium). Tác giả đề ra bốn tiêu chuẩn để nhận biết một Giáo phụ:

  1. Thuộc về thời cổ;
  2. Đạo lý chính thống;
  3. Đời sống thánh thiện;
  4. Được Giáo hội công nhận.

Tước hiệu “Tiến sĩ Hội Thánh” ra đời muộn hơn. Năm 1295, đức thánh cha Bonifacio VIII trao tặng tước hiệu này cho bốn Giáo phụ Tây phương rất quen thuộc: Ambrôsiô, Augustinô, Giêrônimô, Grêgôriô cả. Điều này có nghĩa là từ nay, bên cạnh các thánh Tông đồ, Tử đạo, có thêm một “hàng ngũ” mới trong Phụng vụ, với bài lễ và kinh nguyện riêng. Sau Công đồng Trentô, vào năm 1567, tước hiệu này cũng được đức thánh cha Piô V (OP) trao cho Tôma Aquinô, dòng Đa Minh, xét vì ảnh hưởng đạo lý của thánh nhân trong toàn thể Giáo hội, đặc biệt nơi các văn kiện của Công đồng Trentô vừa bế mạc. Bởi vậy, khi xếp thánh Tôma vào hàng “Tiến sĩ”, xem ra đức Piô V muốn coi vị thánh này ngang hàng với bốn Giáo phụ vừa kể, tuy rằng tước hiệu Giáo phụ chỉ được áp dụng cho các thánh sống trong những thế kỷ đầu của Kitô giáo. Năm 1568, đức thánh cha Piô V cũng trao tặng tước hiệu ấy cho bốn Giáo phụ Đông phương: Basiliô, Grêgôriô Nazianzo, Gioan Kim Khẩu và Athanasiô. Có lẽ ngài không ngờ rằng mình đã mở đường cho một tiến trình tôn phong “Tiến sĩ Hội Thánh” vẫn còn kéo dài cho đến nay. Thật vậy; hai mươi năm sau, đến lượt đức Sixtô (OFM) cũng tôn phong “Tiến sĩ” cho Bônaventura, người anh em cùng dòng.

Sau một thế kỷ im lặng (thế kỷ XVII), các cuộc tôn phong Tiến sĩ được tiếp tục qua các thế kỷ sau đó:

  • Thế kỷ XVIII có bốn vị. Năm 1720 (Clêmentê XI): Anselmô. Năm 1722 (Innôcentê XIII) Isiđôrô. Năm 1729 (Bênêđictô XIII): Phêrô Kim Ngôn. Năm 1754 (Bênêđictô XIV): Lêô cả.
  • Thế kỷ XIX có tám vị. Năm 1828 (Lêô XII): Phêrô Đamianô. Năm 1830 (Piô VIII): Bênađô. Năm 1851 (Piô IX): Hilariô. Năm 1871 (Piô IX): Anphongsô Ligôri. Năm 1877 (Piô IX): Phanxicô Salê. Năm 1882 (Lêô XIII): Syrilô Alexandria, Syrilô GiêrusalemGioan Đamascô. Năm 1899 (Lêô XIII): Bêđa.
  • Thế kỷ XX có mười vị. Năm 1920 (Bênêđictô XV): Ephrem. Năm 1925 (Piô XI): Phêrô Canisiô. Năm 1926 (Piô XI): Gioan Thánh Giá. Năm 1931 (Piô XI): Rôbertô BêlaminôAnbertô cả. Năm 1946 (Piô XII): Antôn Pađua. Năm 1959 (Gioan XXIII): Lôrensô Brindisi. Đặc biệt là ba phụ nữ cũng được đưa vào hàng Tiến sĩ Hội Thánh, vào năm 1970 (đức Phaolô VI): Têrêsa AvilaCatarina Siena. Năm 1997 (đức Gioan Phaolô II): Têrêsa Lisieux.
  • Thế kỷ XXI (tính đến tháng 09 năm 2017) có ba vị. Năm 2012 (đức Bênêđictô XVI): Gioan AvilaHildegard Bingen. Năm 2015, gần đây nhất (đức Phanxicô): Grêgôriô Narek.

3. Điều kiện để được phong “Tiến sĩ Hội Thánh”

Trên nguyên tắc cần phải có ba điều kiện.

  • Thứ nhất, sanctitas: phải là một vị đã được phong hiển thánh. Do đó, cho dù là một học giả hết sức nổi tiếng nhưng chỉ mới được phong chân phước, thì chưa thể tiến hành hồ sơ tặng tước hiệu “Tiến sĩ” (như đã xảy ra cho thánh Anbertô cả và thánh nữ Hildegard Bingen).
  • Thứ hai, eminentia doctrinae: vị thánh ấy đã để lại một học thuyết lỗi lạc có ảnh hưởng đến đời sống của Giáo hội.
  • Thứ ba, cần phải được đức thánh cha hay Công đồng hoàn vũ tuyên bố. Nói khác đi, cần phải có thẩm quyền tối cao của Giáo hội công bố, chứ không để mặc cho công luận định đoạt. Dĩ nhiên là cộng đồng Dân Chúa có quyền thỉnh nguyện Tòa thánh để xin trao tước hiệu “Tiến sĩ” cho vị thánh nào đó, nhưng thẩm quyền quyết định thì dành cho Tòa thánh, qua bộ Phong thánh và bộ Giáo lý Đức tin.

Điều kiện thứ nhất và thứ ba không có gì khó hiểu. Vấn đề gai góc hệ tại điều kiện thứ hai. Khi nào một vị thánh được công nhận là có một học thuyết lỗi lạc? Không thể đưa ra một tiêu chuẩn cố định. Bên cạnh những vị thánh “giáo sư” như thánh Tôma, có những vị thánh “mục vụ” như thánh Phêrô Canisiô, hoặc “huyền bí” như Gioan Thánh Giá hoặc các vị thánh nữ. Tác phẩm của các ngài cũng đa dạng: bên cạnh các pho sách của Augustinô, Tôma, là các bài giảng của Gioan Kim Khẩu, Phêrô Kim ngôn, Antôn Pađua; hoặc các thánh thi của Ephrem, Gioan Thánh Giá. Sự “lỗi lạc” không chỉ dựa vào kiến thức uyên thâm, nhưng còn dựa theo ảnh hưởng đối với đời sống đạo của Dân Chúa. Các ngài không những đã nên thánh mà còn đào tạo cho nhiều thế hệ tín hữu nên thánh. Điều này giải thích vì sao thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu được tôn phong “Tiến sĩ” mặc dù không để lại nhiều tác phẩm cao siêu.

Đó là những điều kiện tích cực. Bên cạnh đó, cũng có một điều kiện tiêu cực nữa, đó là “không tử đạo”, xét vì trong lịch Phụng vụ, thánh Tử đạo ở trên bậc thánh Tiến sĩ. Vì lẽ đó, người ta không xúc tiến hồ sơ của thánh Irênê và Edith stein.

Ngoài ra cũng phải kể đến yếu tố “chính trị”, nghĩa là quốc tịch của các vị hoặc dòng tu (phải có sự cân bằng nào đó), rồi yếu tố “thời sự”, nghĩa là thích hợp với thời đại (điều này giải thích tại sao có những vị thánh cổ thời nhưng mãi đến gần đây mới được phong “Tiến sĩ”).

Một vài xếp loại sau đây cho thấy điều đó.

  1. Xét theo “phẩm trật”
  • Hai giáo hoàng: Lêô cả (440-461) và Grêgôriô cả (590-604)
  • Ba hồng y: Phêrô Đamianô (1007-1072), Bônaventura (1221-1274), và Rôbertô Bêlaminô (1542-1621)
  • Mười bốn giám mục: Athanasiô (296-373), Hilariô (315-368), Syrilô Giêrusalem (315-386), Grêgôriô Nazianzo (329-389), Basiliô (330-379), Ambrôsiô (339-397), Gioan Kim Khẩu (347-407), Augustinô (354-430), Syrilô Alexandria (376-444), Phêrô Kim ngôn (406-450), Isiđôrô Sevilla (560-636), Anselmô (1033-1109), Anbertô (1206-1280), Phanxicô Salê (1567-1622), Anphongsô Ligôri (1696-1787
  • Một phó tế: Ephrem (306-373)
  • Ba đan sĩ Đông phương: Giêrônimô (347-420), Gioan Đamascô (676-749), Grêgôriô Narek (951-1003)
  • Hai đan sĩ Biển Đức: Bêđa (673-735), Hildegard Bingen (1098-1179); cũng có thể kể thêm Anselmô (giám mục trên đây)
  • Một đan sĩ Xitô: Bênađô (1090-1153)
  • Hai tu sĩ Đa Minh: Anbertô (giám mục đã kể trên), Tôma Aquinô (1225-1274)
  • Hai tu sĩ Phanxicô: Antôn Pađua (1195-1231), Bônaventura (hồng y đã kể trên)
  • Một tu sĩ Dòng Phanxicô Capuchinô: Lôrensô Brindisi (1559-1619)
  • Một tu sĩ Cát Minh: Gioan Thánh Giá (1542-1591)
  • Hai tu sĩ dòng Tên: Phêrô Canisiô (1521-1597), Rôbertô Bêlaminô (hồng y)
  • Hai nữ tu Cát Minh: Têrêsa Avila (1515-1582), Têrêsa Lisieux (1873-1897)
  • Một giáo dân tận hiến: trinh nữ Catarina Siena (1347-1380).
  1. Xét theo thời gian, đến một nửa thuộc vào thời các giáo phụ, phần còn lại thuộc thiên niên kỷ thứ hai.
  • Mười bảy giáo phụ: Hilariô (367), Athanasiô (373), Ephrem (378), Basiliô (379), Syrilô Giêrusalem (386), Grêgôriô Nazianzo (390), Ambrôsiô (397), Gioan Kim Khẩu (407), Giêrônimô (419), Augustinô (430), Syrilô Alexandria (444), Phêrô Kim Ngôn (450), Lêô cả (461), Grêgôriô cả (604), Isiđôrô Sevilla (636), Bêđa (735), Gioan Đamascô (740). Tuy nhiên, như đã nói trên, nhiều giáo phụ mới được phong Tiến sĩ trong thế kỷ XVIII và XIX.
  • Trung cổ: Grêgôriô Narek (1003), Phêrô Đamianô (1072), Anselmô (1109), Bênađô (1153), Hildegard Bingen (1178), Antôn Pađua (1231), Tôma Aquinô (1274), Bônaventura (1274), Anbertô cả (1280), Catarina Siena (1380).
  • Cận đại: Gioan Avila (1569), Têrêsa Avila (1582), Gioan Thánh Giá (1591), Phêrô Canisiô (1597), Lôrensô Brindisi (1619), Rôbertô Bêlaminô (1621), Phanxicô Salê (1622), Anphongsô Ligôri (1784), Têrêsa Lisieux (hay còn gọi Têrêsa Hài Đồng Giêsu, năm 1897).

4. Ý nghĩa của việc tuyên phong tước hiệu “Tiến sĩ Hội Thánh”

Trong Tông thư tuyên phong cho thánh Gioan Avila (xem phần Bổ sung 2), đức thánh cha giải thích rằng hành vi hàm ngụ Giáo hội nhìn nhận “Chúa Thánh Thần đã ban cho ngài đặc sủng khôn ngoan vì ích chung của Hội Thánh.” Ân huệ của Thánh Thần đã giúp cho ngài “hiểu biết sâu sắc các mạc khải của Thiên Chúa và không ngừng đối thoại khôn ngoan với thế giới, từ đó mở ra đường chân trời mãi mãi cho đời sống và hoạt động của Giáo hội”.

Tuy nhiên, vì tính cách huấn giáo của các buổi tiếp kiến chung hằng tuần, đức thánh cha không phân tích tất cả nội dung đạo lý của các thánh tiến sĩ, mà chỉ nêu vài nét đặc trưng về tư tưởng và nhấn mạnh đến đời sống thánh thiện của các ngài. Nói chung, mỗi vị được trình bày trong khuôn khổ một bài huấn giáo. Có vài trường hợp ngoại lệ: thánh Augustinô được giới thiệu trong năm bài; thánh Bônaventura và thánh Tôma được trình bày trong ba bài; hai bài dành cho Basiliô, Grêgôriô Nazianzo, Gioan Kim Khẩu, Giêrônimô. Trong khi đó lại thiếu thánh Phêrô Kim Ngôn và ba vị mới được phong sau khi đã kết thúc loạt bài (Hildegard, Gioan Avila, Grêgôriô Narek), những vị này cũng được các dịch giả giới thiệu khá chi tiết trong phần Bổ sung cuối tập sách.

Cầu mong việc học hiểu về cuộc đời và đạo lý của các vị thánh tiến sĩ sẽ gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về các mầu nhiệm đức tin, từ đó khơi lên lòng yêu mến, giúp chúng ta tiến bước trên đường hoàn thiện, trở nên những người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Gò vấp, ngày 15 tháng 09 năm 2017

Giuse Phan Tấn Thành, OP

(Trích từ sách “36 Thánh Tiến Sĩ” của ĐGH Benedict XVI – Hv Đa Minh)